Xác định vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền

1 Xác định vị trí thống lĩnh của doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp

Luật cạnh tranh định nghĩa về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền tại Khoản 5 Điều 3 Luật cạnh tranh năm 2018 và Điều 24 cũng khẳng định: Doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể”.

Nhóm doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu cùng hành động gây tác động hạn chế cạnh tranh và có sức mạnh thị trường đáng kể được xác định theo quy định tại Điều 26 của Luật cạnh tranh năm 2018 hoặc có tổng thị phần thuộc một trong các trường hợp sau đây:

– Hai doanh nghiệp có tổng thị phần từ 50% trở lên trên thị trường liên quan;

– Ba doanh nghiệp có tổng thị phần từ 65% trở lên trên thị trường liên quan;

– Bốn doanh nghiệp có tổng thị phần từ 75% trở lên trên thị trường liên quan;

– Năm doanh nghiệp trở lên có tổng thị phần từ 85% trở lên trên thị trường liên quan.

* Về vị trí thống lĩnh của một doanh nghiệp

Khoản 1 Điều 24 Luật cạnh tranh năm 2018 quy định về một doanh nghiệp được coi là có vị trí thông lĩnh nếu thuộc một trong hai các trường hợp như sau:

– Doanh nghiệp đó có thị phần từ 30% trở lên trong thị trường liên quan.

– Doanh nghiệp đó có khả năng hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể. Doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường khi có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể. Trường hợp này được sử dụng để xác định vị trí thống lĩnh khi một doanh nghiệp chưa tích lũy đủ mức thị phần tối thiểu (tức là có thị phần dưới 30% trên thị trường liên quan) nhưng có khả năng thực hiện những hành vi gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường. Nghị định số 116/2005/NĐ-CP không giải thích mà chỉ đưa ra các căn cứ để xác định khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể, bao gồm:

1. Năng lực tài chính của doanh nghiệp;

2. Năng lực tài chính của tổ chức cá nhân thành lập doanh nghiệp;

3. Năng lực tài chính của tổ chức, cá nhân có quyền kiểm soát hoặc chi phối hoạt động của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật hoặc điều lệ của doanh nghiệp;

4. Năng lực tài chính của công ty mẹ;

5. Năng lực công nghệ;

6. Quyền sở hữu, quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp;

7. Quy mô của mạng lưới phân phối;

8. Các căn cứ khác mà Cơ quan Quản lý cạnh tranh và Hội đồng Cạnh tranh cho là phù hợp.

* Vị trí thống lĩnh của một nhóm doanh nghiệp

Vị trị thống lĩnh của một nhóm doanh nghiệp được xác định tại Điều 24 Luật cạnh tranh năm 2018 cụ thể như sau:

– Nhóm doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu cùng hành động gây tác động hạn chế cạnh tranh và có sức mạnh thị trường đáng kể được xác định theo quy định tại Điều 26 của Luật cạnh tranh năm 2018 hoặc có tổng thị phần thuộc một trong các trường hợp sau đây:

  • Hai doanh nghiệp có tổng thị phần từ 50% trở lên trên thị trường liên quan;
  • Ba doanh nghiệp có tổng thị phần từ 65% trở lên trên thị trường liên quan;
  • Bốn doanh nghiệp có tổng thị phần từ 75% trở lên trên thị trường liên quan;
  • Năm doanh nghiệp trở lên có tổng thị phần từ 85% trở lên trên thị trường liên quan.

– Nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường quy định ở trên không bao gồm doanh nghiệp có thị phần ít hơn 10% trên thị trường liên quan.

 

3.2 Vị trí độc quyền của doanh nghiệp

Điều 25 Luật cạnh tranh năm 2018 quy định về vị trí độc quyền của doanh nghiệp cụ thể như sau: Doanh nghiệp được coi là có vị trí độc quyền nếu không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trường liên quan”.

Theo quy định của pháp luật cạnh tranh doanh nghiệp được coi là có vị trí được quyền nếu không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trường liên quan. Vị trí độc quyền đã loại bỏ khả năng có sự tồn tại của cạnh tranh trên thị trường liên quan bởi tại đó chỉ có một doanh nghiệp duy nhất là doanh nghiệp đang được xem xét hoạt động. Do đó khi xác định vị trí độc quyền cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh chỉ cần xác định những nội dung sau:

– Xác định thị trường liên quan;

– Xác định số lượng doanh nghiệp đang hoạt động trên thị trường. Nếu kết luận đưa ra là chỉ có một doanh nghiệp duy nhất thì doanh nghiệp đó có vị trí độc quyền. Các bước phân tích về doanh thu, doanh số… để xác định tổng thị phần của thị trường sẽ không còn cần thiết.

    Nếu Quý vị có bất kì câu hỏi hay yêu cầu nào, xin vui lòng điền vào các trường bên dưới và gửi cho chúng tôi




    Nguyễn Đức Toàn
    Tổng giám đốc/Luật sư
    Điện thoại: 0986.918.829
    Nguyễn Thảo Ly
    Trưởng phòng tư vấn
    Điện thoại: 0986.918.829
    Trương Thị Thuỳ
    Phó phòng tư vấn
    Điện thoại: 0986.918.829
    Nguyễn Thị Kim Anh
    Trưởng phòng tài chính
    Điện thoại: 0986.918.829