Rủi ro trong kiểm toán
Rủi ro kiểm toán và trọng yếu có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nếu mức sai lệch có thể chấp nhận được tăng lên thì rủi ro kiểm toán sẽ giảm xuống…
Rủi ro tiềm tàng
Theo đoạn 13n của VSA 200 (2012) thì “Rủi ro tiềm tàng: Là rủi ro tiềm ẩn, vốn có, do khả năng cơ sở dẫn liệu của một nhóm giao dịch, số dư tài khoản hay thông tin thuyết minh có thể chứa đựng sai sót trọng yếu, khi xét riêng lẻ hay tổng hợp lại, trước khi xem xét đến bất kỳ kiểm soát nào có liên quan”.
Rủi ro tiềm tàng sẽ cao hơn đối với các phép tính phức tạp hoặc các tài khoản phản ánh số liệu được hình thành từ các ước tính kế toán không chắc chắn. Những yếu tố từ bên ngoài làm tăng rủi ro kinh doanh cũng có thể làm tăng rủi ro tiềm tàng như sự phát triển của khoa học và công nghệ có thể làm một sản phẩm nào đó trở nên lỗi thời, dẫn đến hàng tồn kho trên sổ kế toán bị phản ánh cao hơn giá trị thực tế. Các yếu tố bên trong đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị có liên quan đến một số hoặc tất cả các nhóm giao dịch, số dư tài khoản, thông tin thuyết minh cũng có thể ảnh hưởng đến rủi ro tiềm tàng liên quan đến một cơ sở dẫn liệu cụ thể, ví dụ trường hợp không có đủ nguồn vốn ngắn hạn hoặc sự suy thoái của ngành nghề sẽ dẫn đến thất bại trong kinh doanh.
Rủi ro kiểm soát
Theo đoạn 13n (ii) của VSA 200 (2012) thì rủi ro kiểm soát là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu, khi xét riêng lẻ hay tổng hợp lại, đối với cơ sở dẫn liệu của một nhóm giao dịch, số dư tài khoản hay thông tin thuyết minh mà kiểm soát nội bộ của đơn vị không thể ngăn chặn hoặc không phát hiện và sửa chữa kịp thời.
Rủi ro kiểm soát thể hiện hiệu quả của việc thiết kế, vận hành và duy trì kiểm soát nội bộ của Ban Giám đốc nhằm giải quyết những rủi ro đã xác định có thể cản trở việc hoàn thành các mục tiêu của đơn vị trong quá trình lập và trình bày báo cáo tài chính. Tuy nhiên, do những hạn chế vốn có của kiểm soát nội bộ, dù nó được thiết kế phù hợp và vận hành hiệu quả cũng không thể loại trừ hoàn toàn rủi ro có sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính mà chỉ có thể làm giảm bớt rủi ro. Ví dụ về những hạn chế vốn có của kiểm soát nội bộ gồm: khả năng người thực hiện gây ra nhầm lẫn hoặc lỗi, một số kiểm soát bị vô hiệu do sự thông đồng hay lạm dụng quyền của người quản lý. Do đó, một số rủi ro kiểm soát sẽ luôn tồn tại.
Kiểm toán viên có thể đánh giá riêng hoặc đánh giá kết hợp cả rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, tùy theo kỹ thuật hoặc phương pháp luận kiểm toán và các phương pháp thực hành kiểm toán mà kiểm toán viên lựa chọn. Việc đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu có thể được thể hiện bằng các thuật ngữ có tính định lượng như tỷ lệ phần trăm, hoặc các thuật ngữ phi định lượng. Trong mọi trường hợp, sự cần thiết phải thực hiện đánh giá rủi ro một cách thích hợp còn quan trọng hơn so với việc sử dụng phương pháp nào để đánh giá rủi ro.
Rủi ro phát hiện
Theo đoạn 13e của VSA 200 (2012) thì “Rủi ro phát hiện: Là rủi ro mà trong quá trình kiểm toán, các thủ tục mà kiểm toán viên thực hiện nhằm làm giảm rủi ro kiểm toán xuống tới mức thấp có thể chấp nhận được nhưng vẫn không phát hiện được hết các sai sót trọng yếu khi xét riêng lẻ hoặc tổng hợp lại”;
Với một mức rủi ro kiểm toán xác định trước, mức độ rủi ro phát hiện được chấp nhận có mối quan hệ trái chiều với rủi ro có sai sót trọng yếu được đánh giá ở cấp độ cơ sở dẫn liệu. Do đó nếu kiểm toán viên xác định là rủi ro có sai sót trọng yếu ở mức độ càng cao thì rủi ro phát hiện có thể chấp nhận ở mức càng thấp, và càng cần các bằng chứng kiểm toán có tính thuyết phục cao hơn.
Rủi ro phát hiện liên quan đến nội dung, lịch trình, phạm vi các thủ tục được kiểm toán viên xác định để giảm rủi ro kiểm toán xuống mức độ thấp có thể chấp nhận được.
Do đó, rủi ro phát hiện là sự kết hợp giữa tính hiệu quả của các thủ tục kiểm toán và việc kiểm toán viên thực hiện các thủ tục đó. Để giúp tăng cường hiệu quả của các thủ tục kiểm toán và việc kiểm toán viên thực hiện các thủ tục đó, giúp giảm khả năng kiểm toán viên lựa chọn thủ tục kiểm toán không phù hợp, thực hiện sai thủ tục kiểm toán hoặc hiểu không đúng các kết quả kiểm toán, công ty kiểm toán cần thực hiện:
(1) Lập kế hoạch kiểm toán đầy đủ, phù hợp;
(2) Bố trí nhân sự phù hợp cho nhóm kiểm toán;
(3) Duy trì thái độ hoài nghi nghề nghiệp;
(4) Giám sát và kiểm tra các công việc đã thực hiện.
Mối quan hệ giữa các loại rủi ro
Quan hệ giữa các loại rủi ro trên có thể được phản ánh qua một mô hình rủi ro sau đây:
Rủi ro kiểm toán =Rủi ro có sai sót trọng yếuX Rủi ro phát hiện
Trong đó rủi ro có sai sót trọng yếu được xác định thông qua đánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát
Rủi ro có sai sót trọng yếu: Đoạn 12n của VSA 200(2012) định nghĩa “Rủi ro có sai sót trọng yếu: Là rủi ro khi báo cáo tài chính chứa đựng những sai sót trọng yếu trước khi kiểm toán. Tại cấp độ cơ sở dẫn liệu, rủi ro có sai sót trọng yếu bao gồm hai bộ phận đó là rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát”
Như vậy khi đánh giá rủi ro kiểm toán theo hệ thống chuẩn mực kiểm toán hiện hành, thì kiểm toán viên phải xác định rủi ro có sai sót trọng yếu thông qua việc đánh giá rủi ro tìm tàng và rủi ro kiểm soát
Trọng yếu: Đoạn 9a của VSA 320(2012) –Mức trọng yếu trong lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán – định nghĩa:
“Trọng yếu: Là thuật ngữ dùng để thể hiện tầm quan trọng của một thông tin (một số liệu kế toán) trong báo cáo tài chính. Thông tin được coi là trọng yếu có nghĩa là nếu
thiếu thông tin đó hoặc thiếu tính chính xác của thông tin đó sẽ ảnh hưởng đến các quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính.”
Trong định nghĩa trên sẽ được hiểu rằng sai lệch được coi là trọng yếu nếu ảnh hưởng quan đến báo cáo tài chính và quyết định của người sử dụng báo cáo tài chính. Mức trọng yếu thể hiện về mặt định lượng (số tiền cụ thể) và định tính (tính chất của thông tin)
Về mặc định lượng được xem khi vượt một giới hạn cho phép, hay sai sót có thể chấp nhận được. Kiểm toán viên có thể sử dụng một số tuyệt đối để đánh giá tính trọng yếu, tuy nhiên vấn đề này cần phải được xem xét vì một số cụ thể là trọng yếu đối với những công ty có quy mô nhỏ nhưng đối với những công ty có quy mô lớn, thì con số đó là không trọng yếu. Vì vậy, một số kiểm toán viên quan tâm đến con số tương đối, tức là mối quan hệ giữa đối tượng cần đánh giá với đối tượng gốc (như so với tổng tài sản, tổng doanh thu, tổng lợi nhuận, tài sản ròng…).
Về mặc định tính, là việc xem xét bản chất của sự việc, có những trường hợp tuy số sai lệch là thấp nhưng do bản chất của sai phạm vẫn xem là trọng yếu. Các sai phạm có tác động dây chuyền, ảnh hưởng nghiêm trọng đến báo cáo tài chính như các khoản chi phí bất hợp pháp, ảnh hưởng đến công nợ, tài sản kết quả kinh doanh, hay sự mô tả không chính xác về chính sách kế toán làm người đọc hiểu sai về bản chất của các thông tin như thay đổi phương pháp tính giá xuất kho mà không khai báo, hay viêc không trình bày thông tin quan trọng trong thuyết minh có thể gây ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính.


English