Nghĩa vụ, các căn cứ phát sinh nghĩa vụ theo Bộ luật dân sự 2015
Nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác.

Khái niệm nghĩa vụ.

Điều 274 Bộ luật dân sự 2015 quy định về khái niệm nghĩa vụ như sau:

Nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền).

Trong quan hệ nghĩa vụ luôn luôn tồn tại hai bên chủ thể là bên mang quyền và bên mang nghĩa vụ. Trong đó, bên mang quyền và bên mang nghĩa vụ có thể là một hoặc nhiều chủ thể, phụ thuộc vào từng quan hệ dân sự nhất định. Chủ thể có thể là cá nhân, pháp nhân, Nhà nước được pháp luật công nhận và được xác định rõ ràng cụ thể trong mọi quan hệ.
-Bên có quyền: là một bên chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ, trong đó bên có có quyền yêu cầu bên có nghĩa phải thực hiện hoặc không thực hiện những hành vi nhất định đối với mình. Quyền của chủ thể được pháp luật công nhận và bảo hộ.
-Bên có nghĩa vụ: là mỗi bên trong quan hệ nghĩa vụ, trong đó bên có nghĩa phải thực hiện hoặc không thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định với bên có quyền. Nghĩa vụ được đảm bảo thực hiện bằng quy định của pháp luật.
Thông thường, trong quan hệ nghĩa vụ thường có tính chất song vụ. Tức chủ thể vừa là bên có quyền vừa là bên có nghĩa vụ và ngược lại, nghĩa vụ bên này tương ứng với quyền của bên kia. Các bên vừa có quyền yêu cầu bên kia thực hiện nghĩa vụ nhất định nằm đảm bảo thực hiện quyền của mình, vừa phải thực hiện nghĩa vụ để đảm bảo quyền lợi của bên kia. Tuy nhiên tùy theo tính chất của từng quan hệ mà bên có quyền yêu cầu không phải thực hiện nghĩa vụ, tương tự bên có nghĩa vụ chỉ thực hiện nghĩa vụ mà không có quyền yêu cầu, trường hợp này gọi là quan hệ đơn vụ.

Trong quan hệ nghĩa vụ, các chủ thể tham gia quan hệ thông qua hành vi của mình thực hiện nghĩa vụ với bên có quyền nhằm hướng đến những lợi ích vật chất, tinh thần mà các bên mong muốn. Căn cứ vào quy định trên, chủ thể mang nghĩa vụ phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không thực hiện công việc nhất định cho chủ thể mang quyền. Trong quan hệ nghĩa vụ, việc một chủ thể hướng tới quyền lợi của chính mình chính là việc hướng tới hành vi thực hiện nghĩa vụ của bên kia và ngược lại

Khách thể của quan hệ nghĩa vụ là những xử sự của các bên chủ thể mà chỉ thông qua đó, quyền yêu cầu cũng như nghĩa vụ của các bên chủ thể mới được thực hiện. Thông quan các hành vi mà quyền lợi của các chủ thể được thực hiện. Vì vậy, hành vi là cái mà các chủ thể đều hướng tới, là khác thể thể của mọi quan hệ nghĩa vụ. Do đó, hành vi cũng rất đa dạng và phong phú, bao gồm: Hành vi gắn liền với vật, là hành vi gắn liền với một vật nhất định mà nếu không có vật đó thì sẽ không có hành vi, ví dụ như hợp đồng mua bán tài sản; Hành vi không gắn liền với vật, là hành vi mà chỉ cần quan tâm đến hành vi cụ thể của chủ thẻ mà không liên quan đến vật, ví dụ như hợp đồng dịch vụ.

Quan hệ pháp luật dân sự luôn hàm chứa sự thỏa thuận hoặc quy định của pháp luật tạo ra quyền và nghĩa vụ tương xứng của các bên chủ thể. Trong quan hệ nghĩa vụ việc một bên thực hiện việc chuyển giao quyền, chuyển giao vật,…nhằm mục đích thỏa thỏa mãn nhu cầu của bên còn lại. Như vậy việc bên có nghĩa vụ thực hiện các công việc cụ thể theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật được xác định là nghĩa vụ của bên đó trước bên có quyền. Từ đó, có thể hiểu nội dung là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ.

Căn cứ phát sinh nghĩa vụ.

Theo điều 275 Bộ luật dân sự 2015 thì

Nghĩa vụ phát sinh từ căn cứ sau đây:

1. Hợp đồng.

2. Hành vi pháp lý đơn phương.

3. Thực hiện công việc không có ủy quyền.

4. Chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.

5. Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật.

6. Căn cứ khác do pháp luật quy định.

– Hợp đồng theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 “là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Đó là sự thỏa thuận giữa các bên về việc mua bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, cho thuê, mượn tài sản hoặc về việc thực hiện một công việc, theo đó làm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các bên trong hợp đồng. Với tính chất này, khi các bên thỏa thuận nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của nhau thì đây sẽ là căn cứ hình thành nghĩa vụ.

– Hành vi pháp lý đơn phương là hành vi của cá nhân thể hiện ý chí tự do, tự nguyện, tự định đoạt của bản thân nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự. Khi một người thực hiện một hành vi pháp ký đơn phương thì có thể làm phát sinh nghĩa vụ của người đó với người khác hoặc phát sinh nghĩa vụ của người khác với người thứ ba.

– Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối.

– Khi một người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật sẽ làm phát sinh nghĩa vụ hoàn trả của người đó kể từ khi người đó có khoản lợi trong tay. Từ thời điểm người đó biết hoặc phải biết việc được lợi thì phải hoàn trả khoản lợi mà mình đã thu được.

– Thực hiện hành vi gây thiệt hại trái pháp luật sẽ phát sinh quan hệ bồi thường thiệt hại. Trong quan hệ này, bên gây thiệt hại phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho bên bị thiệt hại.

– Trường hợp này do pháp luật khác quy định, để tránh sự bỏ sót phát sinh trong thực tiễn. Đó là những căn cứ pháp lý do pháp luật quy định điều chỉnh các quan hệ nghĩa vụ về tài sản giữa các chủ thể trong quan hệ xã hội thuộc lĩnh vực dân sự.

    Nếu Quý vị có bất kì câu hỏi hay yêu cầu nào, xin vui lòng điền vào các trường bên dưới và gửi cho chúng tôi




    Nguyễn Đức Toàn
    Tổng giám đốc/Luật sư
    Điện thoại: 0986.918.829
    Nguyễn Thảo Ly
    Trưởng phòng tư vấn
    Điện thoại: 0986.918.829
    Trương Thị Thuỳ
    Phó phòng tư vấn
    Điện thoại: 0986.918.829
    Nguyễn Thị Kim Anh
    Trưởng phòng tài chính
    Điện thoại: 0986.918.829