Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là gì? Đặc điểm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Sự tồn tại của hợp đồng thương mại quốc tế trong đó có hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế không có gì xa lạ với chúng ta. Song lại không có một quy định nào xác định cụ thể khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là gì ?
Hoạt động thương mại quốc tế được thực hiện trong nhiều lĩnh vực khác nhau như thương mại hàng hóa, thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, thương mại trong lĩnh vực đầu tư…Trong đó các giao dịch trong lĩnh vực thương mại hàng hóa luôn diễn ra sôi động nhất, giữ vị trí trung tâm trong các giao dịch thương mại quốc tế.
Các giao dịch trong lĩnh vực thương mại hàng hóa quốc tế được thực hiện chủ yếu thông qua các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Tuy nhiên, trong khoa học pháp lý hiên nay chưa có một khái niệm thống nhất về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế hay nói chính xác hơn là chưa có một cách xác định thống nhất tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, mà chỉ nêu lên một số khái niệm hay một số cách xác định yếu tố quốc tế của loại hợp đồng này.
Luật thương mại năm 2005 của Việt Nam và pháp luật của nhiều nước cũng như các văn bản pháp lí quốc tế điều chỉnh các loại hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế xác định tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế dựa trên cơ sở dấu hiệu lãnh thổ hay nói chính xác hơn là địa điểm hoạt động thương mại của thương nhân.
Công ước NewYork 1974 về thời hiệu tố tụng trong hợp đồng mua bán hàng quốc tế, Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Công ước LaHaye 1986 về luật áp dụng cho hợp đồng mua bán quốc tế được xây dựng trong phạm vi UNCITRAL, Công ước Genevơ 1983 về đại diện trong mua bán quốc tế, các công ước Ottawa năm 1988 về thuê tài chính quốc tế và về bao thanh toán quốc tế chỉ sử dụng một tiêu chí duy nhất là địa điểm trụ sở thương mại của các bên để xác định tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Tất cả các công ước nói trên, quy định rằng hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng được kí kết giữa các bên có trụ sở thương mại nằm trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau, nếu như các quốc gia này tham gia công ước hay luật của quốc gia tham gia công ước được áp dụng phù hợp với những quy phạm của luật tư pháp quốc tế.
Rõ ràng, việc xây dựng khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế dựa trên yếu tố lãnh thổ cho phép xác định yếu tố quốc tế của hợp đồng trở nên đơn giản hơn và thiết thực hơn. Vì vậy, thiết nghĩ định nghĩa cô đọng nhất về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là:
“hợp đồng được kí kết giữa các bên có trụ sở thương mại nằm trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau.”
Tuy nhiên, có một vấn đề đặt ra là việc xác định tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế dựa trên dấu hiệu lãnh thổ sẽ gặp khó khăn trong trường hợp khi các bên có nhiều trụ sở thương mại. Trong trường hợp này này, giải pháp mà Công ước Viên 1980 đưa ra là hoàn toàn hợp lý. Điều 10 của Công ước quy định:
Nếu một bên có nhiều hơn một địa điểm kinh doanh thì sẽ chọn điểm kinh doanh nào có liên hệ gần nhất với hợp đồng và với việc thực hiện hợp đồng, có quan tâm đến những tình huống mà hai bên đã biết hoặc đã nghĩ đến tại thời điểm trước hay ngay khi kí hợp đồng. Nếu một đương sự không có địa điểm kinh doanh thì chọn nơi thường trú của người này làm chuẩn.
Hiện nay, đã có nhiều quốc gia tham gia Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế, vì vậy có thể nói rằng pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới xác định tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế dựa trên dấu hiệu lãnh thổ của các bên kí kết hợp đồng. Việt Nam chúng ta đã tham gia công ước Viên từ năm 2017, và bởi vậy những quy định của công ước Viên 1980 về xác định hợp đồng thương mại quốc tế sẽ được áp dụng tại Việt Nam.
Như vậy, để làm rõ hợp đồng mua bán hàng quốc tế là gì ? Cần hiểu về các vấn dề sau:
Khi sử dụng thuật ngữ yếu tố “nước ngoài” (foreign) hoặc nhân tố “nước ngoài” thì hàm ý quan hệ được đặt trong hệ quy chiếu với 1 quốc gia cụ thể, quốc gia sở tại. Còn khi sử dụng thuật ngữ yếu tố “quốc tế” (international) hoặc nhân tố “quốc tế”, thì lúc này quan hệ được đề cập với một bối cảnh là sự liên quan tới hơn một quốc gia. Như vậy, mặc dù việc sử dụng các thuật ngữ có đôi chút khác nhau nhưng việc dùng thuật ngữ nào cũng thể hiện bản chất của quan hệ hợp đồng trong tư pháp quốc tế. Theo đó, vấn đề xung đột pháp luật hoặc áp dụng pháp luật nước ngoài được coi là những điểm đặc trưng của quan hệ hợp đồng trong tư pháp quốc tế.
Việc xác định yếu tố nước ngoài trong hợp đồng có thể không hoàn toàn giống nhau theo các nguồn pháp luật áp dụng. Ví dụ các nguồn như điều ước quốc tế và pháp luật của mỗi quốc gia.
Theo Công ước La Haye 1964 về thống nhất việc mua bán hàng hoá quốc tế (Convention Relating to the Uniform Law on International Sale of Goods) thì, hợp đồng mua bán hàng hoá sẽ mang yếu tố nước ngoài nếu các bên tham gia hợp đồng có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau, khi:
“Hàng hóa trong hợp đồng được chuyên chở từ lãnh thố quốc gia này sang lãnh thổ quốc gia khác, hành vi chào hàng và chấp nhận chào hàng được thực hiện trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau và việc giao hàng được thực hiện trên lãnh thổ của một quốc gia khác với quốc gia nơi tiến hành chào hàng hoặc hành vi chấp nhận chào hàng” .
Từ nội dung quy định tại Điều 1 của Công ước La Haye 1964 có thể thấy dấu hiệu các bên chủ thể của hợp đồng có trụ sở thương mại ở các quốc gia khác nhau sẽ là dấu hiệu quốc tế nếu các điều kiện về vận chuyển hàng hoá, xác lập chào quốc tế của hợp đồng. Nội dung quy định này khá phù hợp với quy định của Công ước Vienna 1980 của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế đã quy định (Điều 1 Công ước Vienna 1980 và Điều 80 Luật thương mại 1997).
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, yếu tố “quốc tế” trong một hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, một loại hợp đồng điển hình trong tư pháp quốc tế, đã được xác định và ghi nhận trong nhiều văn bản pháp lý khác nhau với những nội dung khác nhau trong từng giai đoạn nhất định.
Theo Quy chế tạm thời số 4794/TN-XNK ngày 31/7/1991 của Bộ Thương nghiệp (nay là Bộ Công Thương) về việc hướng dẫn việc ký kết hợp đồng mua bán ngoại thương có ghi nhận hợp đồng mua bán ngoại thương là hợp đồng mua bán có tính chất quốc tế với các dấu hiệu sau đây:
Thứ nhất, chủ thể của hợp đồng là những pháp nhân có quốc tịch khác nhau;
Thứ hai, hàng hoá là đối tượng của hợp đồng được dịch chuyển qua các nước khác nhau; thứ ba, đồng tiền thanh toán là ngoại tệ đối với một bên hoặc cả hai bên chủ thể của hợp đồng.
Trong Luật thương mại Việt Nam 1997 không có quy định về khái niệm hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế hoặc hợp đồng có yếu tố nước ngoài mà Luật thương mại quy định về một loại hợp đồng có tên gọi là “hợp đồng mua bán hàng hoá với thương nhân nước ngoài”.
Theo đó, “hợp đồng mua bán hàng hoá với thương nhân nước ngoài là hợp đồng mua bán hàng hóa được ký kết giữa một bên là thương nhân Việt Nam với một bên là thương nhân nước ngoài”?
Từ quy định này có thể hiểu rằng Luật thương mại năm 1997 chỉ điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hoá được ký kết giữa một bên là thương nhân Việt Nam và một bên là thương nhân nước ngoài. Với quy định này, Luật thương mại 1997 đã loại trừ việc điều chỉnh của Luật này đối với nhiều loại hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, lý, việc điều chỉnh vấn đề này có thể áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự. Thứ nhất, về mặt lý luận thì việc áp dụng Bộ luật dân sự, với tư cách là đạo luật gốc, là phù hợp vì trong trường họp luật chụyên ngành là Luật thương mại không điều chỉnh. Thứ hai, về mặt pháp lý, Luật thương mại 2005 quy định:
“Hoạt động thương mại không được quy định trong Luật thương mại và trong các luật khác thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự” (Khoản 3 Điều 4 Luật thương mại 2005; Điều 758 Bộ luật dân sự 2005).
Để đánh giá quá trình phát triển các quy định của pháp luật Việt Nam trong đó có các quy định về dấu hiệu nước ngoài trong quan hệ tư pháp quốc tế làm cơ sở để xác định quan hệ hợp đồng trong tư pháp quốc tế nói chung và trong quan hệ hợp đồng nói riêng, cần xem xét một số quy định trong Bộ luật dân sự năm 2005
Trong Bộ luật dân sự 2005 của Việt Nam, vấn đề xác định dấu hiệu nước ngoài trong một quan hệ dân sự được ghi nhận tại Điều 758. Theo đó:
“Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cả nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài ”
Bộ luật dân sự 2015 được thay thế cho Bộ luật dân sự 2005 kể từ ngày 01/01/2017. Trong Bộ luật dân sự 2015, quy định quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được ghi nhận tại khoản 2 Điều 663. Theo đó, quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự thuộc một trong các trường hợp sau: (1) Có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài; (2) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam hoặc pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập,
– Căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ hợp đồng theo pháp luật nước ngoài;
– Đối tượng của hợp đồng là tài sản đang tồn tại ở nước ngoài.
Tóm lại, hợp đồng trong tư pháp quốc tế là hợp đồng dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài.


English