Các quy định về bán đấu giá tài sản bảo đảm

Bán đấu giá tài sản bảo đảm là một trong bôn phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp. Các bên tham gia giao dịch bảo đảm có quyền thỏa thuận một trong các phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp là bán đấu giá tài sản.

Đấu giá tài sản

Đấu giá tài sản là một hình thức bán tài sản thông qua các thủ tục trả giá công khai giữa nhiều người muốn mua, cũng như người trả giá cao nhất là người được quyền mua tài sản bán. Đấu giá tài sản có thể là bắt buộc (theo quyết định của Toà án hoặc là cơ quan nhà nước có thẩm quyền) hoặc có thể tự nguyện (theo đúng nhu cầu của chủ sở hữu tài sản). Người bán tài sản có thể tự tổ chức đấu giá hoặc là thông qua người bán đấu giá.

Bán đấu giá tài sản là một hình thức bán tài sản công khai để cho nhiều người có thể cùng tham gia trả giá mua một tài sản. Những người tham gia mua tài sản bán đấu giá cần nộp một khoản lệ phí theo đúng quy định của pháp luật. Khoản tiền này nhằm ràng buộc người đã đăng kí phải tham gia bán đấu giá tài sản hoặc có thể không mua tài sản thì số tiền này không được lấy lại. Nếu họ có tham gia đấu giá nhưng không mua được thì nhận lại số tiền lệ phí mà mình đã đóng.

Các loại tài sản bắt buộc phải bán thông qua đấu giá

Tài sản mà pháp luật quy định phải bán thông qua đấu giá, bao gồm:

 Tài sản nhà nước theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước;

 Tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân theo quy định của pháp luật;

Tài sản là quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai;

Tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm;

Tài sản thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự;

Tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu sung quỹ nhà nước, tài sản kê biên để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;

Tài sản là hàng dự trữ quốc gia theo quy định của pháp luật về dự trữ quốc gia;

Tài sản cố định của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp;

Tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản theo quy định của pháp luật về phá sản;

Tài sản hạ tầng đường bộ và quyền thu phí sử dụng tài sản hạ tầng đường bộ theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng và khai thác kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ;

Tài sản là quyền khai thác khoáng sản theo quy định của pháp luật về khoáng sản;

Tài sản là quyền sử dụng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng;

Tài sản là quyền sử dụng tần số vô tuyến điện theo quy định của pháp luật về tần số vô tuyến điện;

Tài sản là nợ xấu và tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật;

Tài sản khác mà pháp luật quy định phải bán thông qua đấu giá…”

Bán đấu giá tài sản bảo đảm

Bán đấu giá tài sản bảo đảm là một trong bôn phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp. Các bên tham gia giao dịch bảo đảm có quyền thỏa thuận một trong các phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp là bán đấu giá tài sản.

Việc bán đấu giá tài sản cầm cố, thế chấp được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản. Tuy nhiên, Luật Đấu giá tài sản năm 2016 lại quy định “Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá được ký kết giữa người có tài sản đâu giá với người trúng đấu giá hoặc giữa người có tài sản đấu giá, người trúng đấu giá và tổ chức đấu giá tài sản nếu các bên có thỏa thuận, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Theo quy định này, thì tổ chức đấu giá tài sản hoàn toàn có quyền từ chối không thỏa thuận trách nhiệm ký hợp đồng mua bán tài sản đấu giá sau khi đã đấu giá thành, khác với quy định trưổc đó, là nghĩa vụ của tổ chức đấu giá. Vì vậy, khi tiến hành việc bán đấu giá tài sản bảo đảm qua tổ chức đấu giá tài sản, cần thỏa thuận rõ về trách nhiệm ký hợp đồng mua bán tài sản trúng đấu giá của tổ chức bán đấu giá. Và trong mọi trường hợp thì người có tài sản bán đấu giá (chủ sở hữu, người có quyền bán đấu giá, gồm cả bên nhận bảo đảm) luôn phải là một bên ký hợp đồng mua bán tài sản đấu giá.

Theo quy định của Luật Đấu giá tài sản năm 2016, ngoài trường hợp đấu giá theo thỏa thuận, thì các trường hợp sau đây tài sản phải được bán thông qua đấu giá:

Tài sản nhà nước theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước;

Tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân theo quy định của pháp luật;

Tài sản là quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai;

Tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm;

Tài sản thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự;

Tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu sung quỹ nhà nước, tài sản kê biên để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;

Tài sản là hàng dự trữ quốc gia theo quy định của pháp luật về dự trữ quốc gia;

Tài sản cố định của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật vê’ quản lý, sử dụng vốn nhà nưốc đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp;

Tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bé) phá sản theo quy định của pháp luật về phá sản;

Tài sản hạ tầng đường bộ và quyền thu phí sử dụng tài sản hạ tầng đường bộ theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng và khai thác kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ;

Tài sản là quyền khai thác khoáng sản theo quy định của pháp luật về khoáng sản;

Tài sản là quyền sử dụng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng;

Tài sản là quyền sử dụng tần số vô tuyến điện theo quy định của pháp luật về tần số vô tuyến điện;

Tài sản là nợ xấu và tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật;

Tài sản khác mà pháp luật quy định phải bán thông qua đấu giá.

    Nếu Quý vị có bất kì câu hỏi hay yêu cầu nào, xin vui lòng điền vào các trường bên dưới và gửi cho chúng tôi






    Nguyễn Đức Toàn
    Tổng giám đốc/Luật sư
    Điện thoại: 0986.918.829
    Nguyễn Thảo Ly
    Trưởng phòng tư vấn
    Điện thoại: 0986.918.829
    Trương Thị Thuỳ
    Phó phòng tư vấn
    Điện thoại: 0986.918.829
    Nguyễn Thị Kim Anh
    Trưởng phòng tài chính
    Điện thoại: 0986.918.829