Bán tài sản bảo đảm kèm theo bán nợ theo quy định của pháp luật
Chủ nợ đối với khoản nợ ngoài các quyền đòi nợ, quyền bán tài sản bảo đảm thì còn có quyền bán khoản nợ. về nguyên tắc, quyền đòi nợ là một loại quyền tài sản, nên có thể bán cho bất kỳ pháp nhân, cá nhân nào có nhu cầu.
Khái niệm mua bán nợ
Mua bán nợ là hoạt động giao dịch kinh tế – tài chính để trao đổi và chuyển nhượng khoản nợ. Là các “khoản nợ chính cần thu hồi” từ cá nhân này sang cá nhân khác, doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác, tổ chức này sang tổ chức khác…Thực chất, đó là việc chuyển nhượng lại “quyền thu hồi nợ” từ một khoản nợ của bên bán nợ (chủ nợ) đối với công ty mua nợ.
Bán tài sản bảo đảm kèm theo bán nợ
Một trong các biện pháp xử lý nợ là bán khoản nợ kèm theo tài sản bảo đảm, nhưng về bản chất cũng có thể coi là việc bán tài sản bảo đảm.
Chủ nợ đối với khoản nợ ngoài các quyền đòi nợ, quyền bán tài sản bảo đảm thì còn có quyền bán khoản nợ. về nguyên tắc, quyền đòi nợ là một loại quyền tài sản, nên có thể bán cho bất kỳ pháp nhân, cá nhân nào có nhu cầu.
Quy định của pháp luật hiện hành dường như đã dựng hàng rào cản trỏ thị trường mua bán nợ và hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ mua bán nợ chuyên nghiệp.
Hiện nay có ba nhóm công ty mua bán nợ gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn Mua bán nợ Việt Nam (DATC) thuộc Bộ Tài chính, chủ yếu mua nợ của các doanh nghiệp nhà nưốc, mua nợ không nhiều, với giá cả khá thấp; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) thuộc Ngân hàng Nhà nước, chủ yếu mua bán nợ về mặt “kỹ thuật”, chứ rất ít mua bán thật, vì có ít vốn; và một số công ty quản lý nợ và khai thác tài sản trực thuộc ngân hàng thương mại (AMC), chủ yếu xử lý nợ nội bộ. Hai công ty đầu được thành lập và hoạt động theo các nghị định của Chính phủ. Các công ty còn lại được thành lập và hoạt động theo thông tư của Ngân hàng Nhà nước. Ngoài ra, có rất ít công ty kinh doanh dịch vụ mua bán nợ, vì trong nhiều năm qua, tuy không bị cấm, nhưng gần như cũng không được các Phòng đăng ký kinh doanh cấp Giấy chứng nhân đăng ký doanh nghiệp, vì lý do thiếu quy định rõ ràng của pháp luật.
Hoạt động kinh doanh mua bán nợ được hoạt động theo quy định của Nghị định số 69/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ về “Điều kiện kinh doanh mua bán nợ”. Điều kiện kinh doanh dịch vụ mua bán nợ theo Nghị định này đòi hỏi quá cao, như phải có các mức vốh pháp định 5 tỷ đồng đối với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ môi giới mua bán nợ, tư vấn mua bán nợ; 100 tỷ đồng đối với doanh nghiệp kinh doanh hoạt động mua bán nợ và 500 tỷ đồng đốì vổi doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ sàn giao dịch nợ.
Và dù là doanh nghiệp bất kỳ nào khác có nhu cầu mua một vài khoản nợ hay là công ty chuyên kinh doanh dịch vụ mua bán nợ thì cũng dễ vưống vào Luật Đất đai. Theo quy định về giao dịch bảo đảm của hai Bộ luật Dân sự năm 2005 và 2015, khi doanh nghiệp mua nỢ của tổ chức tín dụng kèm theo tài sản thế chấp là nhà đất, thì sẽ thay thế tổ chức tín dụng để trở thành bên nhận thế chấp quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, khi đó sẽ dễ dẫn đến việc vi phạm quy đỉnh của Luật Đất đai năm 2013: Tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê chỉ được phép “thế chấp bằng quyền sử dụng đất, tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất tại các tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam”. Tức là trong trường hợp này, quyền sử dụng đất đã được thế chấp tại các tổ chức tín dụng, nếu cứ theo đúng quy định thì sẽ không được phép chuyển sang thế chấp tại các tổ chức kinh tế.
Các pháp nhân nước ngoài và các doanh nghiệp có vốh đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thì còn bị hạn chế hơn nữa và càng lo sợ trước nguy cơ trái luật này sẽ dẫn đến hợp đồng mua bán nợ và hợp đồng thế chấp vô hiệu.


English